#WalkOfSummer – Đến Gia Lai mùa này, đừng chỉ đi biển!
Sức hút từ Mega Concert “Đại Ngàn Chạm Biển Xanh” với sự quy tụ của dàn Anh trai và Em xinh, cùng chuỗi sự kiện đặc sắc kéo dài cả năm thuộc khuôn khổ “Năm Du lịch Quốc Gia” đã tạo nên cú hích cho du lịch Gia Lai (Bình Định).
Gia Lai đang trở thành một trong những toạ độ du lịch được các tín đồ đam mê dịch chuyển săn đón trong mùa hè năm nay. Nhờ thiên nhiên hậu đãi, biển trời xứ Nẫu gây thương nhớ với du khách thập phương bởi vẻ đẹp vừa hoang sơ vừa thanh bình, con người nồng hậu và ẩm thực phong phú. Đặc biệt, năm 2026 đánh dấu một cột mốc quan trọng khi Gia Lai lần đầu được chọn làm địa điểm đăng cai “Năm Du lịch Quốc Gia” với hơn 224 sự kiện, thu hút đông đảo khách du lịch nội địa và quốc tế.
Không dừng lại ở đó, Gia Lai còn được các nhà làm phim lựa chọn làm bối cảnh cho những thước phim giàu chất thơ của mình. Gần đây nhất phải kể đến là Tiểu Chủng viện Làng Sông, nơi được mệnh danh là một trong những cái nôi của chữ Quốc ngữ. Hay Trại phong Quy Hòa – ốc đảo nhỏ lưu giữ ký ức, kỷ niệm trong những năm tháng cuối đời của thi sĩ Hàn Mặc Tử, đang “làm mưa làm gió” trên khắp nền tảng mạng xã hội qua dự án điện ảnh “Hẹn Em Ngày Nhật Thực” của đạo diễn Lê Thiện Viễn.
Bên cạnh những bối cảnh phim mang đậm dấu ấn nghệ thuật đó, nếu bạn là người yêu thích khám phá chiều sâu văn hóa và dấu ấn thời gian, mảnh đất này vẫn còn vô vàn điểm đến mang tính lịch sử hào hùng khác mà không thể bỏ qua. Hãy cùng theo chân Đẹp, để khám phá nhiều hơn về xứ Nẫu nhé!
Nằm nép mình trong một thung lũng xanh bên bờ biển, cách trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 5km về phía Nam, Trại phong Quy Hòa không chỉ gắn liền với lịch sử y tế Việt Nam, mà còn là một ngôi làng mang đậm giá trị nhân văn và lịch sử. Được thành lập vào năm 1929 bởi linh mục người Pháp Paul Maheu và bác sĩ Lemoine, nơi đây từng là điểm tựa duy nhất của những bệnh nhân phong (Hansen), giúp họ tìm thấy hy vọng giữa nỗi đau bệnh tật. Theo đó, cha Paul Maheu đã dựng một số nhà tranh vách đất cho các bệnh nhân và nhân viên lưu trú. Còn bác sĩ Lemoine dốc hết tài năng, sức lực để điều trị các bệnh nhân. Trại bắt đầu hoạt động với 52 bệnh nhân đầu tiên. Dần dà, số bệnh nhân tăng dần theo năm tháng.
Năm 1933, một cơn bão lớn đã san bằng hầu hết các lán trại nơi đây. Sau sự kiện này, các nữ tu đã quyết tâm xây dựng lại Quy Hòa bằng gạch đá kiên cố. Các công trình như Nhà thờ Quy Hòa (hoàn thành năm 1937), tu viện và các khu nhà ở mang đậm dấu ấn kiến trúc Pháp với tường dày, mái ngói đỏ và các chi tiết trang trí tinh tế. Một điểm độc đáo trong kiến trúc nơi đây là hàng trăm ngôi nhà nhỏ được xây dựng sát nhau nhưng vẫn có khoảng cách hợp lý để đảm bảo sự riêng tư, tạo cảm giác như một ngôi làng yên tĩnh, ấm cúng.
Quy Hòa cũng trở thành cái tên bất tử trong lòng người yêu văn chương nhờ sự hiện diện của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Ông nhập viện vào năm 1936 với số thẻ bệnh nhân 1.134. Trong những tháng ngày ở đây, ông đã viết nên các tập thơ kinh điển như “Thơ Điên” (Đau Thương), “Những GIọt Lệ”… Đến ngày nay, những di tích của ông vẫn còn được lưu giữ tại đây. Căn phòng lưu niệm có diện tích 25m² – nơi ông nằm điều trị, hiện vẫn lưu giữ nguyên vẹn chiếc giường gỗ, manh chiếu cói và những kỷ vật cuối cùng. Ngôi mộ cũ của ông (trước khi cải táng về Ghềnh Ráng) vẫn nằm lặng lẽ trong khuôn viên làng phong như một chứng tích về một tài hoa bạc mệnh.

Ngày nay, Quy Hòa không còn là một vùng biệt lập, mà đã trở thành một điểm đến du lịch văn hóa nổi tiếng. Vẻ đẹp của những rặng hoa giấy rực rỡ bên những ngôi nhà cổ hơn 100 năm tuổi chính là minh chứng cho sự hồi sinh mạnh mẽ của con người nơi đây.
Trong những ngày qua, cộng đồng mạng và những người yêu điện ảnh đang truyền tai nhau về những thước phim tuyệt đẹp từ dự án “Hẹn Em Ngày Nhật Thực”. Giữa những khung hình nhuốm màu hoài niệm, hình ảnh một ngôi thánh đường mang phong cách Gothic phương Tây hiện lên đầy trầm mặc, bao quanh bởi những hàng sao xanh mướt đã ngay lập tức “gây sốt”. Địa danh ấy chính là Tiểu chủng viện Làng Sông (hay còn gọi là Nhà thờ Làng Sông) – một công trình đã tồn tại hàng trăm năm, mang trong mình nhiều lớp trầm tích văn hóa và lịch sử.
Ẩn mình giữa những cánh đồng ở huyện Tuy Phước, công trình này không chỉ gây ấn tượng bởi vẻ ngoài mang dáng dấp châu Âu, mà còn bởi vai trò đặc biệt trong tiến trình văn hóa Việt Nam. Công trình này được hình thành từ giữa thế kỷ XIX, ban đầu chỉ là những mái tranh đơn sơ, trước khi được xây dựng lại với diện mạo hoàn chỉnh vào giai đoạn 1925–1927 và giữ gần như nguyên vẹn cho đến hôm nay. Dấu ấn đậm nét nhất của nơi này chính là lối kiến trúc Gothic đặc trưng của châu Âu, với các khung cửa vòm nhọn, những hàng hành lang đối xứng và gam màu vàng ấm áp, tạo nên một vẻ đẹp vừa cổ kính, vừa uy nghiêm nhưng không kém phần thơ mộng.
Điểm khiến nơi đây trở nên đặc biệt không chỉ nằm ở kiến trúc, mà còn ở giá trị học thuật. Trong lịch sử, Tiểu chủng viện Làng Sông được xem là một trong những điểm đánh dấu hành trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ. Ngay từ thế kỷ XVII, khu vực này đã nằm trong mạng lưới truyền giáo. Các giáo sĩ tiếp cận và ghi chép tiếng Việt bằng hệ chữ La-tinh. Bên cạnh đó, khu vực này từng đặt nhà in Làng Sông, một trong những cơ sở in ấn sớm góp phần truyền bá chữ Quốc ngữ tại Việt Nam. Chính vì vậy, Tiểu chủng viện Làng Sông thường được xem như một trong những “cái nôi” gắn với quá trình hình thành và phổ biến hệ chữ viết này, bên cạnh các trung tâm khác trong nước như Tân Định (Sài Gòn) và Ninh Phú (Hà Nội). Song song đó, không gian nơi đây từng lưu giữ sách, tài liệu và hoạt động học thuật liên quan đến chữ Quốc ngữ trong những giai đoạn đầu.
Nhắc đến mảnh đất Bình Định, người ta không thể không nhớ đến hình tượng người anh hùng “áo vải cờ đào” Nguyễn Huệ – vị vua đã làm nên những chiến công lẫy lừng trong lịch sử dân tộc. Cũng chính từ vùng đất này, Bảo tàng Quang Trung ra đời như một nơi lưu giữ ký ức hào hùng của phong trào Tây Sơn. Tọa lạc tại thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định (nay là khối 1A, xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai), Bảo tàng Quang Trung là một trong những bảo tàng danh nhân quy mô và quan trọng bậc nhất Việt Nam.
Được xây dựng trên chính nền nhà cũ của ba anh em nhà Tây Sơn, với quy mô rộng khoảng 150.000 m². Bảo tàng trưng bày hơn 11.000 hiện vật, tư liệu quý về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, đồng thời tái hiện một giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc thông qua nhiều hình thức phong phú như không gian trưng bày, biểu diễn nhạc võ và các hoạt động lễ hội truyền thống. Điểm nhấn đặc biệt của quần thể này chính là Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt, cùng hai di tích cực kỳ quý giá còn sót lại từ thời thân sinh vua Quang Trung là cây me cổ thụ trên 200 năm tuổi và giếng nước xưa.
Đến với Bảo tàng Quang Trung, du khách viếng hương tại Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt, tham quan Nhà trưng bày các tư liệu hiện vật thời Tây Sơn. Cùng với đó, du khách cũng được thưởng thức chương trình biểu diễn nhạc võ cổ truyền Tây Sơn – Bình Định, một nét văn hóa đặc sắc, di sản văn hóa phi vật thể thời Tây Sơn được Bảo tàng lưu truyền và phát huy giá trị. Đi cùng với nền trống trận là phần biểu diễn võ thuật cổ truyền Tây Sơn – Bình Định gồm các bài võ trong 18 môn binh khí Tây Sơn và diễn tấu cồng chiêng Tây Nguyên, giúp người xem sống lại những năm tháng quật khởi, hào hùng của dân tộc.
Chùa Thập Tháp (hay còn gọi là Thập Tháp Di Đà Tự) là ngôi tổ đình lâu đời nhất của phái Lâm Tế tại miền Trung, tọa lạc trên đồi Long Bích, thuộc phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Nơi đây gắn với lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo Đàng Trong suốt hơn 3 thế kỷ. Ngôi chùa được Thiền sư Nguyên Thiều khai sơn vào nửa cuối thế kỷ XVII, trên một ngọn đồi hình mai rùa được gọi là đồi Long Bích hay gò Thập Tháp, thuộc phía Bắc thành Đồ Bàn của vương quốc Chăm Pa xưa. Tên gọi “Thập Tháp” bắt nguồn từ khu gò này có mười ngọn tháp do người Chăm xây dựng để bảo vệ thành Vijaya.
Trải qua hơn 340 năm với nhiều lần trùng tu, chùa vẫn giữ được vẻ uy nghiêm với lối kiến trúc hình “Khẩu” (口) được xây dựng bằng gạch Chăm và đá ong lấy từ các phế tích tháp cũ. Không gian nơi đây là một quần thể hài hòa gồm chánh điện, nhà phương trượng, khu Tây đường và Đông đường, bao quanh là vườn cây cổ thụ hơn 200 năm tuổi cùng hồ sen rộng lớn trước cổng tam quan.
Khuôn viên chùa thanh tịnh có hồ sen ngát hương, những hàng cây cổ thụ xanh mát và khu vườn tháp cổ kính gồm 24 bảo tháp của các vị trụ trì qua nhiều thế hệ. Đặc biệt, chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật quý báu như quả đại hồng chung đúc từ năm 1893, các bộ kinh cổ và đặc biệt là “Hòn đá chém” gắn liền với những giai thoại lịch sử bi tráng thời kỳ giao tranh Tây Sơn – nhà Nguyễn. Ngoài ra, chùa cũng lưu giữ bộ Đại Tạng Kinh quý giá cùng nhiều bức hoành phi, câu đối cổ mà còn gắn liền với danh tiếng của nhiều bậc cao tăng, tiêu biểu là Quốc sư Phước Huệ – người từng giảng dạy Phật pháp trong hoàng cung nhà Nguyễn.
Với những giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa và kiến trúc, Chùa Thập Tháp đã được công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1990, trở thành điểm đến tâm linh không thể bỏ qua đối với du khách khi ghé thăm vùng đất võ Bình Định.
Bên cạnh Chùa Thập Tháp, Chùa Bà Nước Mặn là một trong những dấu tích tâm linh lâu đời và đặc biệt của vùng đất Bình Định, có lịch sử hơn 400 năm. Ngôi chùa được khởi dựng vào khoảng thế kỷ XVI – XVII, thời điểm cảng thị Nước Mặn còn là trung tâm giao thương sầm uất bậc nhất vùng Đàng Trong, nơi diễn ra sự giao thoa văn hóa đặc sắc giữa người Việt, người Hoa và người Chăm.
Chùa Bà thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu – vị thần phù hộ cho thuyền bè và ngư dân trên biển, cùng với các vị thần như Quan Thánh, Thần Hoàng làng và 12 Bà Mụ, thể hiện lòng tôn kính đối với những bậc tiền nhân có công khai phá vùng đất này. Về kiến trúc, chùa mang dáng vẻ cổ kính theo kiểu chữ Nhất, mặt hướng về phía Nam cạnh dòng sông Cầu Ngói, với các hạng mục như hồ nước, bức bình phong, nhà Tiên tế và Chánh điện được bài trí trang nghiêm, lưu giữ nhiều hoành phi quý giá như “Hộ Quốc Tý Dân” do triều đình nhà Nguyễn ban tặng.
Hằng năm, từ ngày 30 tháng Giêng đến mùng 2 tháng Hai âm lịch, Lễ hội Chùa Bà – Cảng thị Nước Mặn được tổ chức quy mô lớn, thu hút đông đảo du khách thập phương. Đây không chỉ là dịp để người dân cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa mà còn là một bảo tàng sống tái hiện không gian văn hóa thương cảng xưa qua các nghi thức rước sắc, hát tuồng, đánh bài chòi và các trò chơi dân gian. Với những giá trị lịch sử và văn hóa đặc biệt, lễ hội này đã chính thức được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trở thành biểu tượng tâm linh và là niềm tự hào của người dân Bình Định.
Di tích kiến trúc Champa tại Bình Định là một trong những dấu ấn tiêu biểu nhất còn lại của vương quốc Champa cổ, gắn liền với thời kỳ vùng đất này từng là kinh đô Vijaya từ thế kỷ XI đến XV. Trên địa bàn tỉnh hiện vẫn còn 8 cụm tháp với tổng cộng 14 công trình, được xây dựng chủ yếu trong giai đoạn hưng thịnh của Champa, tạo nên một quần thể kiến trúc tôn giáo đặc sắc và có quy mô lớn bậc nhất khu vực.
So với các khu di tích Champa khác, tháp Chăm Bình Định thường có quy mô lớn, vươn cao hùng vĩ với các khối hình vững chãi như tháp Dương Long – cụm tháp gạch cao nhất Đông Nam Á, hay quần thể tháp Bánh Ít với sự đa dạng về loại hình kiến trúc độc đáo. Đặc điểm nổi bật của các công trình này là kỹ thuật xây dựng bằng gạch nung khít khao không lộ mạch vữa, kết hợp với các họa tiết trang trí bằng đá sa thạch tinh xảo như chim thần Garuda, vũ nữ Apsara hay các hình tượng chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Khmer.
Trải qua bao biến thiên của lịch sử, các cụm tháp tiêu biểu khác như tháp Đôi, tháp Cánh Tiên hay tháp Phú Lốc vẫn đứng sừng sững trên những đỉnh đồi hay giữa lòng phố thị, như minh chứng cho trình độ thẩm mỹ bậc thầy của người Chăm cổ, đồng thời là biểu tượng văn hóa linh thiêng, thu hút đông đảo du khách và các nhà nghiên cứu đến khám phá.
BTV Cẩm Tú 


